TRÁNH MỘT SỐ LỖI SAI VỀ “CÚ PHÁP” ĐÁP ÁN IELTS LISTENING ĐỂ KHÔNG MẤT ĐIỂM OAN

Mục lục

Khi làm bài nghe, thí sinh cần tập trung nghe kỹ đáp án IELTS Listening và điền vào câu trả lời. Tuy nhiên trong quá trình điền vào Answer Sheet, do giới hạn về thời gian, nhiều bạn sẽ điền sai “cú pháp”, một số lỗi điển hình như điền không đủ số lượng từ hoặc số, sai ngữ pháp,

Bài viết này sẽ giới thiệu đến các bạn cách để tránh một số lỗi sai về “cú pháp” như vậy khi điền đáp án IELTS Listening và hạn chế mất điểm oan. 

02 điều lưu ý trong quá trình nghe

Đọc kỹ yêu cầu đề bài

Phần thi IELTS Listening có rất nhiều dạng đề nhưng thường xoay quanh 4 dạng chính là:

  • Form, note, table, flow – chart, summary completion;
  • Plan, map, diagram labeling;
  • Matching;
  • Multiple choice;
  • Sentence completion;
  • Short – answer question.

Tùy vào đề thi, sẽ có những yêu cầu phần trả lời khác nhau như điền giới hạn số từ hoặc một số nào đó, xác định vị trí trên bản đồ, điền từ nghe được vào đoạn văn, hoàn thành câu,…

đọc kỹ đề - điền đáp án ielts listening 1

Tập trung vào keywords và bỏ qua câu chưa điền được

Trong quá trình thực hiện bài thi, các bạn sẽ phải làm nhiều task khác nhau, chẳng hạn như đọc câu hỏi, nghe, điền đáp án …

Có một điều rất quan trọng mà các bạn cần nắm chính là KHÔNG cần nghe hiểu từng chữ trong đoạn nghe. Thay vào đó hãy tập trung vào keywords. 

Ngoài ra, nếu như các bạn đã bỏ lỡ đáp án, hãy làm câu tiếp theo, không nên dành quá nhiều thời gian để suy nghĩ.

lưu ý khi làm bài nghe - điền đáp án ielts listening 1

Một số cách tránh sai “cú pháp” khi điền đáp án IELTS Listening

Lưu ý đến giới hạn số từ hoặc con số trên đề bài

Khi làm đến dạng bài Completion, đề bài thường sẽ hướng dẫn điền đáp án như “NO MORE THAN … WORDS AND / OR A NUMBER”, có nghĩa là bạn chỉ được điền ít hơn hoặc bằng số từ hoặc số cho phép.

chú ý yêu cầu đề khi điền đáp án ielts listening 1

Ví dụ:

SECTION 4                                                          Question 31 – 40

Complete the notes below.

Write NO MORE THAN TWO WORDS for each answer.

For business values

Many business values can result in 31 ……………………… .

Senior managers need to understand and deal with the potential 32 ……………….. that may result.

Như đề bài trên, các bạn cần điền vào chỗ trống không được quá 2 từkhông điền con số.

Link luyện tập: https://mini-ielts.com/1161/listening/four-business-values

Cách để phân biệt được “từ” “số”:

  • Con số chỉ năm, số điện thoại,… được tính là một số: 2006 / 0987xxxxxx.
  • Con số với đơn vị từ hàng triệu trở lên sẽ được tính là một từ: 1.497.230 …
  • Từ có dấu nối “-“ được tính là một từ: part – time / check – in / …

Hơn nữa, câu trả lời của bạn cũng sẽ phục thuộc vào dạng câu hỏi đề bài cho.

Ví dụ: Có 2 câu trả lời “in the backyard” hoặc “backyard”

  • Nếu như các bạn làm dạng Sentence Completion

They’re having a picnic ……………………….. .

Để đúng với cấu trúc ngữ pháp, ở đây các bạn sẽ cần điền đáp án IELTS Listening là “in the backyard”.

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT DẠNG BÀI SENTENCE COMPLETION TRONG IELTS LISTENING (PHẦN 1)

  • Nếu như các bạn làm dạng Note / Form Completion

OCCUR AT = …………………….. .

Đáp án được điền chỉ có 1, thì các bạn sẽ điền đáp án IELTS Listening vào chỗ trống là “backyard”.

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT CÁCH LÀM DẠNG FORM COMPLETION TRONG IELTS LISTENING (PHẦN 2)

Kiểm tra chính tả

Trước khi chuyển đáp án IELTS Listening vào Answer Sheet, các bạn phải luôn đảm bảo không sai lỗi chính tả.

Khi còn trong thời gian nghe, các bạn có thể sẽ ghi nhanh phần nghe được mà không kiểm tra kịp thời chính tả, vì vậy khi được phép đưa câu trả lời vào Answer Sheet các bạn nên xem lại thêm một lần nữa.

kiểm tra lỗi khi điền đáp án ielts listening 1

Ví dụ: 

Write NO MORE THAN THREE WORDS for each answer

Many western sections of the wall are constructed from mud and thus are more ………….. 

Đáp án đúng là: susceptible to erosion

Nhưng có thể các bạn sẽ điền thành susseptible.

Thêm một ví dụ về lỗi chính tả mà các bạn rất dễ mắc phải đó chính là nghe từ số nhiều.

Ví dụ:

Singular

Plural

leaf /liːf/

leaves /liːvz/

Quiz /kwiz/

Quizzes /kwiziz/

Một số lỗi khác

Thứ nhất, đối với dạng đề Multiple Choice, câu hỏi và đáp án sẽ như sau:

Choose the correct letter A, B, or C.

36. We are all present hedonists

A. at school 

B. at birth

C. while eating and drinking

Khi điền vào Answer Sheet, các bạn không điền A. at school” mà sẽ chỉ điền một trong 3 chữ cái A, B, hoặc C cho đáp án đúng.

chọn đáp án ielts listening 1

Thứ hai, trong khi nghe một đoạn hội thoại giữa 2 nhân vật, có những lúc chi tiết nhắc về đáp án sẽ thay đổi. Chính vì vậy, các bạn cần nghe rõ và chọn lọc thông tin trước khi đưa vào Answer Sheet.

Ví dụ:

Henry:

Is it ok to meet at 6:00 PM ?

Aurora:

Yes, it sounds fine for me.

Oh wait ! I’ve just remember I have a late meeting with the Student Council. Could we make it half past instead ?

Ở đây, thay vì Henry và Aurora sẽ gặp nhau vào lúc 6:00 tối thì cuộc hẹn đã được dời lại thành 6:30 tối.

Hy vọng bài viết này sẽ giúp các bạn nắm rõ được một số biện pháp phòng tránh việc trả lời sai “cú pháp” khi điền đáp án IELTS Listening vào Answer Sheet để không bị mất điểm oan. 

Các bạn có thể luyện tập nghe hằng ngày, nghe nhiều lần để làm quen với cách người nói phát âm cũng như các “bẫy” có thể có, hoặc các từ số nhiều dễ gây nhầm lẫn.

05 BẪY (TRAPS) THƯỜNG GẶP TRONG BÀI NGHE IELTS: NÉ “TRAPS” HIỆU QUẢ

Chúc các bạn ôn thi thật tốt và có một kỳ thi thật thuận lợi.

Huỳnh Anh Tuấn

Cải thiện kỹ năng nghe tiếng Anh cùng Đội ngũ Học thuật ILP:

ỨNG DỤNG CỦA PHƯƠNG PHÁP “DICTATION” – NGHE CHÉP CHÍNH TẢ TRONG IELTS LISTENING

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH THỪA HOẶC THIẾU “S” KHI LÀM CÁC DẠNG LISTENING IELTS?

LỢI ÍCH VÀ CÁCH TẬN DỤNG TRANSCRIPT ĐỂ CẢI THIỆN KỸ NĂNG NGHE IELTS

TỔNG QUAN VÀ CÁCH LÀM BÀI MULTIPLE CHOICE IELTS READING LOẠI 2 HIỆU QUẢ

Xin chào các bạn đã đến với bài viết của Mr. Di! Trong bài viết lần này, thầy và các bạn sẽ cùng “chiến đấu” với một dạng bài “trông quen mà lạ” đối với các IELTS-ers – Multiple Choice Loại 2.

Đây là dạng bài các bạn có lẽ đã khá quen thuộc vì tần suất xuất hiện trong phần thi IELTS Listening. Nhưng không chỉ trong Listening, đây cũng còn là dạng bài khá thường xuyên được xuất hiện trong các bài đọc IELTS. Liệu rằng Multiple Choice IELTS Reading sẽ có thể làm khó bạn?

Gói gọn trong nội dung bài viết này, các bạn sẽ điểm qua cấu trúc chung, cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 2, sự khác biệt giữa dạng bài này và Multiple Choice Loại 1 để “chinh phục” dạng bài này mà không vướng phải quá nhiều sai sót nhé!

Cấu trúc chung và sự khác biệt giữa Multiple Choice IELTS Reading Loại 1 và Loại 2

Như các bạn đã biết, Multiple Choice (còn gọi là bài thi “Trắc Nghiệm”) là dạng bài yêu cầu người đọc chọn ra đáp án đúng nhất để trả lời cho một câu hỏi được cho sẵn. Nếu như Loại 1 chỉ yêu cầu chọn ra 1 đáp án đúng nhất trong số 4 đáp án được cho, Loại 2 sẽ có phần “khó nhằn” hơn một chút vì số lượng lựa chọn được cho sẵn lên tới 5 và số đáp án được yêu cầu chọn sẽ là 2 đáp án. 

Vị trí của dạng bài này thông thường sẽ nằm ở Passage 2 và 3 – những bài viết mang tính chuyên môn và học thuật, đòi hỏi ý hiểu cao.

cách làm bài multiple choice ielts reading loại 2 ilp

Cụ thể, cấu trúc của một bài Multiple Choice Loại 2 cơ bản là như sau:

Which TWO of the following statements does the writer make about the discoveries of Barrett’s team?
Artefacts found in the higher mountain passes were limited to skiing equipment.

  1. Hunters went into the mountains even during periods of extreme cold.
  2. The number of artefacts from certain time periods was relatively low.
  3. Radiocarbon dating of artefacts produced some unreliable results.
  4. More artefacts were found in Oppland than at any other mountain site.

(Nguồn: Cambridge IELTS 16 – Reading Test 3)

Tương tự như Loại 1, dạng câu hỏi Multiple Choice IELTS Reading Loại 2 cũng yêu cầu người đọc tìm kiếm ý kiến, quan điểm liên quan đến chủ đề nghiên cứu của bài đọc như cấu trúc mẫu ở trên (opinions), hoặc những chi tiết, thành phần liên quan đến một chủ thể nào đó được nhắc đến trong bài (facts). 

Tuy nhiên, khác với Multiple Choice Loại 1, Loại 2 thường sẽ không đưa ra cụ thể vị trí của các chi tiết cho các bạn, ví dụ như “…in the third paragraph”, mà chỉ đặt ra chi tiết các bạn cần phải tìm trong bài và các bạn sẽ phải “tự thân vận động” để tìm ra đáp án nha! 

Hơn nữa, nếu như các câu hỏi và đáp án trong Loại 1 thường sẽ được sắp xếp theo thứ tự các đoạn, ngược lại với Loại 2, các đáp án không nhất thiết sẽ đi theo một trục thẳng từ đầu đến cuối đoạn mà sẽ có thể nằm ngẫu nhiên ở các đoạn khác nhau.

Cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 2

Về cơ bản, cách làm câu hỏi dạng bài này sẽ không có sự khác biệt quá lớn so với Loại 1 – nghĩa là những kỹ năng mà các bạn đã “nằm lòng” như scanning và skimming sẽ được luân phiên vận dụng nhằm nhanh chóng “truy vết” ra đáp án.

Cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 2 cụ thể như sau:

  1. Đọc kĩ câu hỏi và các đáp án đã được cho sẵn, sau đó tập trung khoanh tròn/highlight các từ khóa chứa đựng lượng thông tin nhiều nhất.
  2. Thực hiện kỹ năng skimming để xác định vị trí chi tiết cần tìm.
  3. Xem xét kỹ lưỡng các từ khóa (key words) đã khoanh vùng trong câu hỏi, và đối chiếu với chi tiết trong bài để xác nhận đáp án 

cách làm bài multiple choice ielts reading hiệu quả 1 ilp

Chúng ta hãy cùng thử điểm qua một ví dụ về loại bài này để cùng hiểu chi tiết hơn về cách làm nhé!

Humpback whale breaks migration record

A lone humpback whale travelled more than 9,800 kilometres from breeding areas in Brazil to those

in Madagascar, setting a record for the longest mammal migration ever documented.Humpback whales (Megaptera novaeangliae) are known to have some of the longest migration distances of all mammals, and this huge journey is about 400 kilometres farther than the previous humpback record. The finding was made by Peter Stevick, a biologist at the College of the Atlanticin Bar Harbor, Maine.

The whale’s journey was unusual not only for its length, but also because it travelled across almost 90 degrees of longitude from west to east. Typically, humpbacks move in a north-south direction between cold feeding areas and warm breeding grounds – and the longest journeys which have been recorded until now have been between breeding and feeding sites.

The whale, a female, was first spotted off the coast of Brazil, where researchers photographed its tail fluke and took skin samples for chromosome testing to determine the animal’s sex. Two years later, a tourist on a whale-watching boat snapped a photo of the humpback near Madagascar. To match the two sightings, Stevick’s team used an extensive international catalogue of photographs of the undersides of tail flukes, which have distinctive markings. Researchers routinely compare the markings in each new photograph to those in the archive.

(Nguồn: Essential Reading Band 5.0+)

  1. What TWO aspects of the whale’s journey surprised researchers?

A the destination 

B the direction 

C the distance

D the reason 

E the season

  1. What TWO reasons why whales generally migrate are given?

A to avoid humans 

B to be safe 

C to eat

D to keep warm 

E to produce young

  1. What TWO methods did researchers use to record the identity of the whale near Brazil?

A They analysed part of the whale’s body.

B They marked its tail.

C They made notes of its behaviour.

D They recorded the sounds it made.

E They took a picture.

Trong câu hỏi số 1, những từ khóa chúng ta cần tập trung chính là “aspects”, “whale’s journey”“surprised researchers”, còn các đáp án được cho đều là những  “aspects” đã được nhắc đến trong câu hỏi. Thông qua skimming và scanning, các bạn sẽ dễ dàng phát hiện chi tiết “unusual  not only… but also…” trong đoạn thứ 2.

Chi tiết này sẽ tương xứng với “surprised researchers”, và qua đó, ta cũng sẽ xác định được các chi tiết đi sau là “length” tương tự với đáp án C (direction) và “from west to east” chỉ đáp án B (direction).

bài multiple choice ielts reading loại 2 ilp

Đối với câu hỏi số 2, ta sẽ tập trung vào các từ khóa là “reasons”“generally migrate”, với các đáp án đại diện cho các “reasons” nhắc đến trong câu hỏi. Tương tự như cách làm câu 1, ta sẽ khoanh vùng được các chi tiết nằm ở đoạn số 2.

Đầu tiên chính là “typically” là paraphrase của “generally” và ngay sau đó chính là “move in north-south direction” tương xứng với “migrate”.

Mặc dù không có từ khóa nào tương tự với “reasons” trong bài, nhưng “cold feeding areas”“warm breeding grounds” chỉ những khu vực mà loài cá voi di cư tới và mục đích của những vùng này, với “feeding” bằng nghĩa với đáp án C (to eat) và “breeding” đồng nghĩa đáp án E (produce young).

cách làm bài multiple choice ielts reading loại 2 như thế nào 1

Cuối cùng, đối với câu hỏi số 3, các từ khóa chính là “methods”, “reseachers”, “record the identity”“whale near Brazil”

Qua skimming và scanning, ta sẽ thấy ở đoạn cuối cùng có chi tiết “determine the animal’s sex” tương tự với “record the identity”, với hành động của các nhà nghiên cứu là “photographed”, tương xứng với đáp án E (took a picture) và “took skin samples” tương ứng đáp án A (analysed part of the whale’s body).

cách làm bài multiple choice ielts reading loại 2 để đạt điểm cao 1

Trong bài chia sẻ hôm nay, thầy đã cùng các bạn điểm qua dạng bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 2, một dạng bài có thể nói là một trong những tác nhân gây “đau đầu” đối với các IELTS-er khi làm bài Reading IELTS.

Hy vọng qua bài viết, các bạn sẽ tự tin và mạnh mẽ mỗi khi gặp phải câu hỏi dạng bài này nhé!

Nguyễn Vương Cao Duy

NHỮNG LỖI THƯỜNG GẶP TRONG DẠNG BÀI TRUE FALSE NOT GIVEN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

Mr. Di xin chào các bạn! Nội dung của bài chia sẻ này sẽ là về một loại bài tập mà thầy tin rằng các bạn ít nhất một lần đều cảm thấy “bất ngờ, ngỡ ngàng, ngơ ngác và bật ngửa” khi gặp dạng bài True False Not Given.

Trong bài viết này, thầy cùng các bạn sẽ điểm qua một số khó khăn mà ta thường hay gặp phải đối với dạng bài này nhé!

Không xác định được thông tin thể hiện đáp án trong bài

Có một sự thật là không ít các sĩ tử IELTS gặp vấn đề trong việc xác định vị trí của thông tin liên quan đến câu hỏi trong bài đọc, khiến cho thời gian cứ trôi dần trôi mà đáp án thì “mò hoài không ra”.

Các bạn nên nhớ rằng đối với dạng bài True False Not Given, thông tin sẽ được trình bày theo thứ tự. Nghĩa là thông tin cho câu 1 sẽ xuất hiện trước câu 2, và đến câu 3. Vì vậy, giả dụ nếu các bạn đã tìm được đáp án cho câu 3 rồi, thì chỉ cần đọc lùi lại, đáp án câu 1 và câu 2 sẽ nhanh chóng “hiện nguyên hình”.

thông tin dạng bài True False Not Given 1

Sau đó, khi đọc các câu hỏi, xác định từ khóa (keywords) là một việc rất quan trọng. Cụ thể, từ khóa sẽ chủ yếu là các danh từ, động từ, tính từ chứa đựng lượng thông tin nhiều nhất trong câu.

Khi đã xác định được từ khóa, việc soi chiếu giữa mệnh đề được cho và những cụm từ tương tự về nghĩa được xuất hiện trong bài sẽ giúp các bạn tìm ra được đáp án.

Ví dụ 1:

  • Câu hỏi: People with dyslexia often read in reverse.
  • Chi tiết trong bài: “This theory could explain why dyslexics have difficulty reading. Many dyslexic children read letters and words backwards, often mistaking a b for a d or reading was instead of saw.”

Từ khóa trong câu hỏi sẽ là “read in reverse” (nghĩa là “đọc ngược”), nhưng trong bài đọc lại không có từ “reverse”, mình phải hiểu và tìm một từ có nghĩa tương tự, đó là backwards. Do đó, TRUE sẽ là đáp án mà các bạn tìm kiếm.

Không bao quát được hết các ý được thể hiện trong mệnh đề cho sẵn

Một điều  cần lưu ý với dạng bài True False Not Given này chính là trọng tâm của việc xác định đúng sai cũng sẽ nằm ở các từ chỉ mức độ, sắc thái trong câu hỏi. Những từ này mang ý nghĩa cốt lõi giúp xác định câu đúng hay sai và việc bỏ qua các từ ngữ này cũng sẽ làm bạn sai cái “oạch” đó.

từ khóa trong dạng bài true false not given 1

Bên cạnh việc tìm và soi chiếu từ khóa giữa các mệnh đề và bài đọc, các IELTS-er cũng nên lưu ý một số các từ khác cũng đóng góp vào việc thể hiện ý nghĩa của câu như:

  • Lượng từ: all, almost, most, many, none,…
  • Mức độ thường xuyên: always, never, usually, rarely,…
  • Sự độc nhất: only, unique, solely,…
  • Thứ tự: first, last, second,…
  • Thời gian: newest, most recent, as soon as, recently,…

Ví dụ 2:

  • Câu hỏi: Mau’s grandfather was his only teacher.
  • Chi tiết trong bài: “His grandfather began the task of teaching him how to navigate when he was still a baby. He showed him pools of water on the beach to teach him how the behaviour of the waves and wind changed in different places.”

Các từ khóa trong câu hỏi này sẽ là “grandfather”, “teacher” và đặc biệt là từ “only”. Trong bài, cả “grandfather” và “teacher” đều được nói đến nhưng không có ý nào cho thấy đây là “only teacher” cả. Do đó, đây sẽ là câu NOT GIVEN.

Không chỉ ra được sự khác biệt giữa đáp án False và Not Given trong dạng bài True False Not Given

Thầy tin rằng đây chính là vấn đề mà đa phần các sĩ tử IELTS đều mắc phải trong quá trình luyện thi, bởi sự tương đồng giữa hai lựa chọn này.

Rất dễ để có thể cho rằng, trong dạng bài True False Not Given, NOT GIVEN tức là bài sẽ hoàn toàn không nhắc đến bất cứ chi tiết nào trong các mệnh đề. Và thầy có thể khẳng định với các bạn rằng đây là quan niệm chưa chính xác.

lựa chọn not given trong dạng bài true false not given 1

Các bạn cần lưu ý, một câu sẽ FALSE khi “contradicts” – đối ngược với những gì được viết trong bài. Và cách làm đơn giản nhất đó là mình sẽ cắt nhỏ câu thành những chi tiết chính. 

Giả sử trong câu đó có 3 điểm chính, tạm gọi là a, b, c, và trong đoạn tương xứng trong bài đọc cũng có 3 điểm chính, tạm gọi là ba chi tiết a, d, c. Trong đó, như các bạn thấy, chi tiết b và chi tiết d hoàn toàn trái ngược nhau, cho nên câu này đáp án sẽ phải là FALSE.

Mặt khác, một câu sẽ được xem là NOT GIVEN khi nó “impossible to tell” – không thể đoán chính xác dựa vào thông tin trong bài. Một câu khác cũng có 3 điểm chính là a, b, c; nhưng trong bài lại chỉ nhắc đến 2 điểm là a và c. 

Một vài điểm nhỏ nhặt được nhắc đến trong mệnh đề nhưng lại không xuất hiện trong bài đọc sẽ khiến ta không thể biết được độ chính xác của câu.

Ví dụ 3:

  • Câu hỏi: In ancient Puerto Escondido, cacao drinks were served hot.
  • Chi tiết trong bài: “In all, ten small, beautifully crafted drinking vessels were found at the Puerto Escondido site, suggesting that even then the cacao brew was not consumed on a frequent basis but was reserved for important feasts or ceremonial events.”

Trong câu trên, chủ thể “cacao drinks” và “Puerto Escondido” vẫn được nhắc đến. Tuy nhiên, chi tiết “reserved for important feasts or ceremonial events” là để thể hiện các thời điểm mà thức uống này được phục vụ, trong khi mệnh đề thể hiện “served hot” – tức là phương thức mà đồ uống này được phục vụ. Hai điều này không liên quan gì đến nhau.

Do đó, các bạn sẽ không thể nắm được liệu phương thức phục vụ có phải là “served hot” hay không, nên đáp án sẽ là NOT GIVEN.

Hôm nay, thầy đã cùng các bạn điểm qua một dạng có thể gọi là hơi “khó nhằn” và “rối não” khi làm bài Reading – dạng bài True False Not Given.

Mong rằng qua bài chia sẻ này, các bạn sẽ không còn quá “ngơ ngác và bật ngửa” khi đối diện với sự “hack não” nữa nhé!

ỨNG DỤNG KỸ NĂNG SCANNING TRONG IELTS READING ĐỂ LÀM BÀI NHANH CHÓNG

Thầy Di xin chào các bạn! Có lẽ như các bạn đã biết, bài thi Reading IELTS không chỉ là một bài kiểm tra từ vựng của thí sinh mà còn là một bài kiểm tra “cách đọc” và “cách hiểu” – cũng như cách xử lý và ứng dụng thông tin đã tiếp nhận qua quá trình đọc bài để hoàn thành đa dạng các bài tập trong thời gian giới hạn.

Chính vì vậy, để có thể hoàn thành được “nhiệm vụ cao cả” này mỗi khi bắt tay vào làm bài, các chuyên gia đã phân kỹ năng Reading thành nhiều kỹ năng phụ (sub-skills) khác. 

Cụ thể, đối với những kỹ năng phụ này, quan trọng nhất chính là Skimming (đọc lướt) và Scanning (đọc quét). Hai kỹ năng này thường sẽ luôn bổ trợ với nhau trong công cuộc “săn lùng đáp án”. 

Nhưng để các bạn có thể hiểu sâu hơn, gói gọn trong nội dung bài viết này, thầy sẽ tập trung chủ đạo vào kỹ năng Scanning và ứng dụng của nó đối với các dạng bài Reading đòi hỏi đáp án chính xác nhé!

Định nghĩa và cách thực hiện kỹ năng Scanning

Nói một cách nôm na, khi scan một thứ gì đó, các bạn sẽ cần phải sử dụng một công cụ nào đó để quét qua nó, với mục đích nhằm để dò tìm và phát hiện ra những chi tiết, yếu tố quan trọng cấu thành nên thứ đó.

Tương tự đối với bài thi IELTS Reading, bạn sẽ cần phải scan để tìm ra những từ khóa trong cả bài đọc lẫn câu hỏi.

kỹ năng scanning trong bài thi IELTS reading 1

Vậy “công cụ” sẽ sử dụng khi scan bài đọc sẽ là gì? Đó chính là “cửa sổ tâm hồn” của các bạn đó! Các bạn sẽ vận dụng kỹ năng di chuyển hướng nhìn của mắt qua từng đoạn trong bài đọc để có thể nhanh chóng xác định những điểm mà người ra đề đã paraphrase lại tương ứng với câu hỏi đã cho.

Để sử dụng hữu hiệu “công cụ” này, các bạn nên làm quen với việc chuyển động mắt từ rìa cuối các phân khúc đã xác định là chứa đựng thông tin lên, theo chiều từ phải sang trái.

Cùng lúc đó, các bạn hãy dùng bút khoanh tròn hoặc highlight những từ hoặc cụm từ chứa đựng nhiều thông tin nhất và kết nối chúng với nhau để giúp bạn dễ dàng liên kết ý giữa các từ hoặc các cụm với nhau.

Khác với cách đọc truyền thống theo chiều trên xuống dưới và trái qua phải, động thái này sẽ giúp các bạn tránh được việc bị cuốn theo nội dung bài đọc cũng như phải tiêu tốn thời gian để xác định được từ khóa và nội dung cần tập trung.

Ngoài ra, điểm khác biệt lớn nhất giữa kỹ năng Skimming và kỹ năng Scanning đó là các bạn có thể chơi “nhảy bước” từ phần câu hỏi trước để xác định thông tin cần tìm kiếm, và dành thời gian sau để hoàn thành câu hỏi mà không cần đi theo trình tự bài.

các bước thực hiện kỹ năng scanning 1

Áp dụng kỹ năng Scanning vào bài Reading IELTS

Đối với các dạng bài tập trong phần thi IELTS Reading, kỹ năng Scanning sẽ được ứng dụng chủ yếu vào các dạng Fill in the blanks (điền từ vào chỗ trống, bao gồm Sentence, Note và Summary Completion), True/False/Not given hoặc Yes/ No/ Not given và Matching features (nối thông tin).

Cùng điểm qua thử một bài dạng Sentence Completion, để cùng ứng dụng thực tiễn kỹ năng Scanning nhé!

How atoms were discovered

Hundreds of years ago in 1785 Dutch scientist Jan Ingenhousz was studying a strange phenomenon that he couldn’t quite make sense of. Minute particles of coal dust were darting about on the surface of some alcohol in his lab.

About 50 years later, in 1827, the Scottish botanist Robert Brown described something curiously similar. He had his microscope trained on some pollen grains. Brown noticed that some of the grains released tiny particles – which would then move away from the pollen grain in a random jittery dance.

At first, Brown wondered if the particles were really some sort of unknown organism. He repeated the experiment with other substances like rock dust, which he knew wasn’t alive, and saw the same strange motion again.

It would take almost another century for science to offer an explanation. Einstein came along and developed a mathematical formula that would predict this very particular type of movement – by then called Brownian motion, after Robert Brown.

Einstein’s theory was that that the particles from the pollen grains were being moved around because they were constantly crashing into millions of tinier molecules of water – molecules that were made of atoms.

By 1908, observations backed with calculations had confirmed that atoms were real. Within about a decade, physicists would be able to go further. By pulling apart individual atoms they began to get a sense of their internal structure.

It might come as a surprise that atoms can be broken down – particularly since the very name atom derives from a Greek term “atomos”, which means “indivisible”. But physicists now know that atoms are not solid little balls. It’s better to think of them as tiny electrical, “planetary” systems. They’re typically made up of three main parts: protons, neutrons and electrons. Think of the protons and neutrons as together forming a “sun”, or nucleus, at the centre of the system. The electrons orbit this nucleus, like planets.

Complete the sentences below.

Write NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.

  1. The type of random jittery movement of tiny particles is called …………………….. .
  2. Einstein explained the phenomenon of particles’ strange motion by the fact that they were collapsing with …………………….. .

(Nguồn: ielts-up.com)

Trong câu 1, bằng việc thực hiện kỹ năng scanning, nhìn qua câu hỏi, bạn sẽ xác định được những từ khóa chính là “type”, “random jittery”, “movement” và “tiny particles”. Trước khoảng trống, các bạn thấy có chữ “called” – tức là sẽ cần có một danh từ hoặc tên riêng.

Tiếp tục “liếc mắt” qua bài, các bạn sẽ thấy ở cuối đoạn 2, người viết có nhắc đến “random jittery dance” – tương tự với chi tiết đã tìm trước đó, nhưng vẫn chưa xuất hiện chi tiết cần.

Vì vậy, cần tiếp tục “quét” cụ thể các đoạn sau đó, cho đến đoạn thứ 4, các bạn sẽ thấy bài viết nhắc đến “movement”, cũng tương tự như từ khóa mình đã tìm, và truy ra được chi tiết, “by then called Brownian motion”. Như vậy, đáp án cho câu 1 sẽ là BROWNIAN MOTION.

Trong câu 2, cũng tương tự, nhờ kỹ năng scanning, ta sẽ xác định được các từ khóa là “Einstein explained”, “phenomenon of particles” và “strange motion”. Chi tiết giúp chúng ta xác định đáp án là “collapsing with” – ở đây ta sẽ cần có một cụm danh từ hoặc danh từ để hoàn thành chỗ trống.

Hướng mắt lại về phía bài, ta sẽ thấy có những cụm từ “va phải sự chú ý của ta” vì chúng đồng nghĩa với những từ khóa ta đã tìm kiếm.

Đó chính là “Einstein’s theory” bằng nghĩa với “Einstein explained” và “crashing into” với “collapsing with”. Ta sẽ dễ dàng nhận ra được đáp án cho câu hỏi này nằm ở ngay sau “crashing into” – MOLECULES OF WATER.

Như vậy, trong bài viết hôm nay, thầy và các bạn đã cùng đi qua chi tiết về kỹ năng Scanning và ứng dụng của nó trong các dạng bài IELTS Reading. Thầy hy vọng qua bài viết các bạn sẽ phần nào được “mở mang tầm óc” để có thể hoàn thành bài một cách “đỉnh của chóp” nhé!

CÁCH LÀM BÀI MULTIPLE CHOICE IELTS READING LOẠI 1 VÀ XỬ LÝ LỖI SAI THƯỜNG GẶP

Mục lục

Hi, Mr. Di xin chào các bạn! Trong chùm bài về kỹ năng chinh phục bài thi IELTS Reading lần này, thầy và các bạn sẽ cùng “đối mặt” một trong những dạng bài có thể gọi là khá “khó nhằn” đối với các IELTS-ers – Multiple Choice Loại 1, cụ thể là cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading và hướng dẫn khắc phục những lỗi sai thường gặp. 

Thầy sẽ cùng các bạn đi qua những điểm chính yếu của dạng bài này, chỉ ra một số những lỗi sai mà các IELTS-ers hay gặp phải. Và cuối cùng là “mách nước” cho các bạn “bí kíp” để các bạn không còn “bất ngờ, ngỡ ngàng, ngơ ngác và bật ngửa” nhé!

Cấu trúc chung của dạng bài Multiple Choice Loại 1

Multiple Choice (hay trong tiếng Việt còn gọi là “Trắc Nghiệm”) là dạng bài yêu cầu các thí sinh phải lựa chọn ra đáp án đúng nhất trong số các đáp án cho sẵn. Vị trí của nó thường nằm ở Passage 3 – bài đọc “dài hơi” và “mỏi mệt” nhất trong 3 bài Reading.

Đối với Loại 1, câu hỏi được đặt ra thường yêu cầu người làm xác định quan điểm, ý kiến của người viết bài hoặc từ một nguồn nghiên cứu, trích dẫn nào đó được nhắc đến trong bài. Dạng bài này thường yêu cầu người đọc chọn đáp án đúng để trả lời câu hỏi, hoặc chọn đáp án để hoàn thành mệnh đề được cho.

thông tin tổng quan dạng bài multiple choice ielts reading 1

Ngoài ra, có một đặc điểm giúp dạng bài Multiple Choice Loại 1 có phần “dễ thở” so với các dạng bài khác đó là câu hỏi thường sẽ chỉ ra cho người đọc vị trí cần tìm đáp án, ví dụ như “third paragraph”, “fourth paragraph”,… hay các chi tiết cụ thể cần tìm để soi chiếu trong bài.

Như vậy, một câu hỏi dạng Multiple Choice Loại 1 sẽ có cấu trúc như sau:

What did the 2006 discovery of the animal bone reveal about the lynx?

A  Its physical appearance was very distinctive.

B  Its extinction was linked to the spread of farming.

C  It vanished from Britain several thousand years ago.

D  It survived in Britain longer than was previously thought.

Những lỗi thường gặp và cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 1

Lỗi 1: Hiểu nhầm thông tin mà câu hỏi đang đưa ra

Một trong những lỗi sai cơ bản nhất mà các thí sinh IELTS rất hay mắc phải đó chính là “hiểu lộn” yêu cầu được đặt ra trong câu hỏi. 

Nguyên nhân dẫn đến lỗi sai này chính là do thói quen làm bài trắc nghiệm mà phần lớn sĩ tử đã quen thuộc: chỉ tập trung vào một vài từ khóa hoặc ý chung của câu để xác định, dẫn đến việc lựa chọn thông tin chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu của câu hỏi, hoặc thậm chí là lệch hướng hoàn toàn với bản chất thực sự của câu hỏi đó.

Các bạn cần nhớ, mỗi từ khóa trong câu hỏi đều quan trọng trong việc thể hiện ý nghĩa của câu. Việc đọc lướt hoặc lược bỏ đi một trong những từ khóa đó sẽ khiến ý hiểu của bạn “đi xa ngàn dặm” so với những gì đề yêu cầu.

Do đó, các bạn phải luôn chú ý đến toàn bộ những từ/cụm từ chứa đựng lượng thông tin nhiều nhất trong câu để hiểu đúng và trọn ý mà người ra đề muốn bạn hướng đến.

cách làm bài multiple choice ielts reading loại 1 ilp

Để rõ hơn, các bạn hãy quan sát câu hỏi dưới đây:

What point does the writer make about microbes in the first paragraph?

A   They adapt quickly to their environment.

B   The risk they pose has been exaggerated.

C   They are more plentiful in animal life than plant life.

D   They will continue to exist for longer than the human race.

Ở câu hỏi này, chi tiết quan trọng các bạn phải chú ý đó là “the writer” – tức tác giả bài viết và “microbes”. Nếu quá nóng vội, các bạn sẽ có thể chọn nhầm đáp án là quan điểm được trích dẫn từ một nguồn nghiên cứu khác cũng được nhắc đến ở trong “first paragraph” chứ không phải quan điểm của chính tác giả, hoặc đó có thể là quan điểm của tác giả, nhưng đó không phải chi tiết hướng tới “microbes”.

Microbes, most of them bacteria, have populated this planet since long before animal life developed and they will outlive us. Invisible to the naked eye, they are ubiquitous. They inhabit the soil, air, rocks and water and are present within every form of life, from seaweed and coral to dogs and humans. And, as Yong explains in his utterly absorbing and hugely important book we mess with them at our peril.

Trong đoạn chứa đáp án ở trên, các bạn có thể thấy, “we mess with them at our peril” là quan điểm khá phù hợp với đáp án B, nhưng nếu đọc không kỹ, các bạn sẽ bỏ sót “as Yong explains” – chi tiết thể hiện quan điểm của một người khác ngoài tác giả.

Chi tiết chứa đựng đáp án đúng sẽ nằm ở câu đầu: “…and they will outlive us” – tương xứng với đáp án D “continue to exist for longer than the human race”.

Chính vì vậy, khi đã xác nhận đúng và đủ đối tượng mà câu hỏi hướng tới, các bạn mới “vung bút” để khoanh đáp án nhé!

Lỗi 2: Nhầm lẫn giữa các đáp án do sự tương đồng của chúng với nhau

Điểm “tinh vi” và “xảo quyệt” của các câu hỏi Reading trong IELTS đó là cách thể hiện sao cho các đáp án đều có phần đúng đối với nội dung trình bày trong bài cũng như đều được nhắc đến. 

Điều này đi ngược lại đối với những dạng bài trắc nghiệm ở các kỳ thi khác thường chỉ thể hiện duy nhất một đáp án chuẩn xác nhất còn các đáp án còn lại đều sai hoặc khuyết thông tin. Điều này sẽ dễ tạo ra tâm lý phân vân, do dự trong việc lựa chọn đáp án. 

Do đó, các bạn cần lưu ý rằng, dù cho các đáp án đều “đọc vào nhìn đung đúng” thì chỉ có một đáp án là “chân lý duy nhất” vì nó đáp ứng ĐÚNGĐỦ theo yêu cầu của câu hỏi. 

khắc phục lỗi khi làm bài multiple choice ielts reading loại 1 ilp

Cụ thể, các bạn có thể theo dõi ví dụ sau:

Rice That Fights Global Warming

More than half the global population relies on rice as a regular part of their diet. But rice paddies have a downside for the planet too: they produce as much as 17 percent of the world’s total methane emissions. That is even more than coal mining emissions, which make 10 percent of total! So Christer Jansson, a plant biochemist at the Pacific Northwest National Laboratory, spent the past 10 years developing SUSIBA2, a genetically modified rice plant that emits almost no methane. 

  1. What is the negative effect of rice?
  1. It is regular part of more than half of the world population’s diet. 
  2. Rice paddies emit more methane than coal mining industry.
  3. Its plantations produce 17% of the world’s total methane emissions.
  4. Rice has genetically modified sort SUSIBA2, which is harmful for health.

Đáp án A đưa ra quan điểm giống như được trình bày ở câu đầu tiên của đoạn văn là: “More than half the global population relies on rice as a regular part of their diet.” Nhưng đây là một hiệu ứng mang tính “positive” chứ không phải “negative” câu hỏi yêu cầu, cho nên đáp án này là sai. 

Đáp án B cũng chứa đựng chi tiết đúng với bài đọc, nhưng đáp án này không phải là cái các bạn cần tìm. Đó là vì chi tiết “That is even more than coal mining emissions, which make 10 percent of total!” chỉ là chi tiết thứ yếu, dùng để minh họa cho ý đằng trước chứ không nhằm mục đích thể hiện quan điểm.

Đáp án này cũng bị loại, nhưng nếu không thấu hiểu bản chất và chức năng của câu, ta sẽ dễ bị nhầm lẫn.

Đáp án C là đáp án chính xác. Vì câu thứ hai trong đoạn đã thể hiện đầy đủ ý của cả câu hỏi lẫn câu trả lời: “But rice paddies have a downside for the planet too: they produce as much as 17 percent of the world’s total methane emissions.” Trong đó, từ “downside”  bằng nghĩa với  “negative effect”.

Đáp án D không liên quan đến bài đọc, vì trong bài không có chi tiết nào thể hiện SUSIBA2 là thứ gì đó “harmful”. Tuy nhiên, đáp án này chứa đựng một số thông tin được trích từ bài nhằm mục đích gây rối. 

Như các bạn thấy, toàn bộ các đáp án trên đều được thể hiện trong bài bằng cách này hay cách khác hoặc “đúng” ở một mặt nào đó, nhưng chỉ có duy nhất đáp án C là thể hiện trọn vẹn ý nghĩa của câu hơn cả. Đừng “thấy hoa nở mà tưởng xuân về” nhé!

Lỗi 3: Bị thiếu thời gian để hoàn thành bài

Những câu hỏi dài với các cấu trúc phức tạp và từ vựng khó rất phổ biến trong các bài thi thuộc dạng Multiple Choice Loại 1 trong IELTS Reading. 

Việc dành nhiều thời gian vào câu hỏi khó sẽ khiến các bạn “mắc kẹt” và không đủ thời gian hoàn thành các câu hỏi còn lại.

Các bạn nên tranh thủ hoàn thành những câu hỏi có nội dung đơn giản hơn, “tạm quên” những câu hỏi quá dài để quay lại khi còn thời gian, vì dù khó hay không, mỗi câu hỏi đều bằng nhau ở số điểm là 1 điểm. 

hướng dẫn cách làm bài multiple choice ielts reading loại 1 ilp

Áp dụng cách này, sau khi trả lời những câu hỏi khác, các bạn cũng sẽ nắm được trình tự thông tin trong bài theo trình tự câu hỏi, đây cũng là một cách giúp các bạn khoanh vùng các đoạn văn chứa thông tin liên quan đến câu hỏi khó. 

Để tránh lãng phí “thời gian vàng ngọc”, các bạn nên nằm lòng “3K”:

  • Không nên đọc các lựa chọn của câu hỏi trước khi tìm thông tin từ bài đọc.
  • Không nên trả lời 2 câu hỏi cùng lúc để tránh bị “lạc trôi” giữa các thông tin.
  • Không nên để bất cứ câu hỏi nào chiếm lĩnh quá nhiều thời gian (khuyến nghị mỗi câu hỏi nên chỉ dành khoảng 1-2 phút)

Trong bài viết này, thầy đã cùng các bạn điểm qua về thông tin tổng quan và cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 1 cũng như một số sai sót IELTS-ers dễ phạm phải nhất.

Hy vọng qua bài viết này, các bạn sẽ tự tin hơn trong việc chinh phục mọi câu hỏi nhé!

Nguyễn Vương Cao Duy

Xem thêm:

TỔNG QUAN VÀ CÁCH LÀM BÀI MULTIPLE CHOICE IELTS READING LOẠI 2 HIỆU QUẢ

TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN

Giảng viên tại ILP là vị trí quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và trải nghiệm học viên. ILP cam kết đồng hành cùng đội ngũ giáo viên, kiến tạo môi trường sư phạm chuyên nghiệp, minh bạch, tự do học thuật và cơ hội phát triển nghề nghiệp;

Mô tả công việc

  • Giảng dạy các lớp Luyện thi IELTS và TOEIC chuyên sâu;
  • Giảng dạy các lớp Tiếng Anh Cơ bản, Grammar, Pronunciation, Vocabulary;
  • Hỗ trợ quản lý và đào tạo chuyên môn theo sự điều động của Ban Giám Đốc;
  • Phối hợp cùng bộ phận học thuật quản lý, đánh giá sự tiến bộ và hài lòng của học viên định kỳ;
  • Phối hợp cùng bộ phận truyền thông triển khai các chiến dịch truyền thông và sự kiện giáo dục.

Yêu cầu ứng viên

Ứng viên ứng tuyển vị trí Giảng viên tại ILP cần phải đáp ứng những yêu cầu sau:

  • Kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh tối thiểu 01 năm;
  • Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Ngôn ngữ Anh, Tiếng Anh và Sư phạm;
  • Ưu tiên ứng viên là Giảng viên Đại học hoặc Sau đại học chuyên ngành Ngôn ngữ Anh, Sư phạm; 
  • Ứng viên có điểm TOEIC 950+ hoặc IELTS 8.0+ là một lợi thế;
  • Thái độ làm việc tích cực, chuyên nghiệp và chịu được áp lực công việc cao và khắc nghiệt;
  • Tuyệt đối tuân thủ kỷ luật, nội quy giảng dạy và văn hóa của doanh nghiệp;

Ứng viên ứng gửi hồ sơ, bao gồm: CV, Bằng cấp và chứng chỉ liên quan về email hr@ilp.edu.vn.

Trân trọng./.