4 CÁCH NÂNG CAO KỸ NĂNG NGHE BẤT KỲ AI CŨNG CÓ THỂ ỨNG DỤNG

Mục lục

Đa số người học Tiếng Anh cơ bản hay nâng cao đều hay gặp khó khăn về mặt nghe hiểu, tiếp thu những gì người khác đang nói với mình hoặc thông qua đài phát thanh do thiếu các kỹ năng nghe cần thiết. 

Trong bài thi IELTS Listening cũng vậy, đôi lúc sẽ gặp khó khăn trong việc xác định đúng đáp án. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn các bạn làm thế nào để nâng cao và áp dụng vào giao tiếp thường ngày cũng như bài thi IELTS Listening.

Giới thiệu

Để tối ưu hóa kỹ năng nghe áp dụng trong giao tiếp thường ngày các bạn cần lưu ý đến hai kỹ năng đặc biệt, đó là Long-term memory (Trí nhớ dài hạn) và Active listening (Nghe chủ động). Khi luyện tập nhuần nhuyễn hai kỹ năng trên, các bạn có thể dễ dàng giao tiếp với người ngoại quốc hoặc thông qua các phương tiện như báo chí, đài phát thanh.

Các kỹ năng Nghe cần đạt được khi luyện Listening để giao tiếp

2 kỹ năng quan trọng khi luyện Nghe để giao tiếp 1

Long-term memory (Trí nhớ dài hạn)

Long-term memory hay còn được biết đến là khả năng ghi nhớ dữ kiện cần thiết trong một thời gian dài. Các dữ kiện cần được nhớ lâu dài khi nghe bao gồm:

  • từ vựng,
  • ngữ pháp cơ bản,
  • các dạng câu trả lời hoặc câu hỏi, …

Hơn nữa, trong hình thức ghi nhớ này, các bạn cần phải chú ý đến khái niệm ghi nhớ rõ ràng (explicit memory), vì khái niệm này bao hàm các kiến thức tiếp thu từ những gì được học và nghe qua hình thức khác nhau (semantic memory) hoặc qua các sự kiện cụ thể (episodic memory).

Active Listening (Nghe chủ động)

Khi giao tiếp với người ngoại quốc, cần giữ tư thế chủ động lắng nghe và chọn lọc từ để nghe. Đây là những yếu tố cần thiết, giúp nâng cao kỹ năng nghe khi tham gia vào các cuộc hội thoại dài hoặc trong các sự kiện hội thảo mà ngôn ngữ được áp dụng chính là Tiếng Anh. 

Hoặc khi nghe với thời lượng dài, các bạn nên tập trung vào những cụm từ quan trọng trong câu để có thể dễ dàng nghe theo cho dù có thể không hấp dẫn nhiều.

Các kỹ năng cần khi bài thi IELTS Listening

Các kỹ năng cần áp dụng vào bài thi IELTS Listening 1

Short-term memory (Trí nhớ ngắn hạn)

Trong học thuật cũng như trong bài thi IELTS Listening, cần một phương pháp ghi nhớ hiệu quả và nhanh chóng để tối ưu được những luồng thông tin đến nhanh và khó phân tích. Đó là lý do các bạn nên áp dụng Short-term memory

Đây là một hình thức rèn luyện việc ghi nhớ những chuỗi thông tin lưu trữ ngắn hạn trong bộ não (từ 15 đến 30s) được người khác thuật lại rất nhanh. Với những ai chưa phát huy tối đa được kỹ năng này sẽ dễ bị cuốn đi và không theo kịp tốc độ của cuộc hội thoại.

Ghi chú nhanh (Note-taking)

Để có thể bắt kịp với tốc độ của bài nghe cũng như điền thông tin chính xác, các bạn cần một phương pháp khác ngoài việc sử dụng trí nhớ ngắn hạn, đó là Note-taking. Vậy thì Note-taking là gì? Và tầm quan trọng của kỹ thuật này trong bài thi IELTS Listening như thế nào? 

Khi bắt đầu từ những phần nghe từ Section 3 đến 4 (Part 3 và 4), các bạn nên áp dụng kỹ thuật Note-taking vì từ Section 3 sẽ có những bài giảng về học thuật. 

Các bài nghe này thường không ngắt giữa đoạn khiến việc nghe hết những thông tin đang trình bày càng khó khăn hơn. Thế nên khi ghi chú, các bạn có thể sử dụng một vài phương pháp Note-taking nhanh như:

  • ghi lại keywords,
  • sử dụng các ký tự (symbols) theo quy chuẩn hoặc cá nhân hóa,
  • ghi tắt các từ,…

Một số phương pháp ghi chú nhanh trong kỹ năng nghe 1

Ghi nhớ tên riêng và phân biệt rõ sự khác biệt giữa các số

Khi làm bài thi IELTS Listening Section 1 (Part 1), các bạn sẽ gặp khó khăn trong việc xác định đúng địa chỉ (số nhà, tên đường hoặc tòa nhà, quận, thành phố,…), số điện thoại, ngày tháng hoặc các loại mã bao gồm cả số và chữ. 

Trong quá trình nghe, sẽ có những địa điểm bạn chưa từng nghe qua bao giờ sẽ khiến bạn phát hoảng và quên theo dõi phần tiếp theo của bài nghe. Hoặc cũng có thể bạn gặp khó khăn trong việc xác định đúng các con số có đuôi -ty-teen (thirty – thirteen, fifty – fifteen).

Ngoài ra sự khác nhau giữa số đếm và số thứ tự (đuôi -th) cũng gây khó khăn đối với một số accent mà các bạn chưa nghe nhiều. 

Xác định loại từ (Part of speech)

Trong Tiếng Anh, chúng ta có 04 loại từ chính đó là tính từ (Adjective – /adj/), danh từ (Noun – /n/), động từ (Verb – /v/) và trạng từ (Adverb – /adv/).

Theo như cấu trúc ngữ pháp và câu, các loại từ luôn có quan hệ mật thiết với nhau để tạo nên một câu hoàn chỉnh, có thể là câu đơn hoặc câu phức hoặc mang nhiều thành phần khác nhau.

Trong bài thi IELTS Listening, nếu các bạn xác định được loại từ tốt, phần điền vào chỗ trống sẽ dễ đoán trước hơn rất nhiều.

4 loại từ chính trong tiếng Anh - kỹ năng nghe 1

Bổ sung kiến thức về đời sống xã hội 

Nếu như các bạn hoàn toàn không áp dụng các kỹ năng nghe trên vào bài thi IELTS Listening, có thể hoàn toàn dựa vào các kiến thức thực tiễn biết đến thông qua trường lớp, các bài báo hoặc các phương tiện truyền thông tiếp xúc hằng ngày.

Nhờ vào lượng kiến thức hiểu biết đó, có thể tìm được đáp án trong bài nghe đơn giản và hiệu quả.

Cách áp dụng các kỹ năng và nâng cao khả năng nghe

Long-term memory

Đối với hai dạng kỹ năng nghe trên, đặc biệt là Long-term memory, các bạn cần học thuộc lòng từ vựng, nắm rõ các cấu trúc ngữ pháp để khi giao tiếp hoặc áp dụng vào bài thi IELTS Listening không gặp trường hợp run vì bỗng dưng quên đi từ cần diễn đạt là gì.

Để có thể cải thiện Long-term memory, cần luyện nghe một keyword hoặc nhiều từ vựng nhiều nhất có thể, chính việc nghe lại nhiều lần giúp cho não bộ tiếp thu và ghi nhớ lâu hơn.

Cách cải thiện Trí nhớ dài hạn cho kỹ năng nghe 1

Ví dụ, khi các bạn nghe lặp lại từ “Strengths” (điểm mạnh) nhiều lần, não bộ sẽ bắt đầu ghi nhớ, cho dù tạm thời quên đi nữa một khi nghe lại, các bạn sẽ nhớ đến ngay. 

Ngoài ra, các bạn cũng có thể sử dụng từ vựng đó trong nhiều câu diễn đạt khác nhau, đến một thời điểm nhất định, các bạn sẽ quen dần. Tuy nhiên, khoa học cũng chứng minh rằng việc luyện tập cũng không phải là một phương pháp có thể cải thiện việc ghi nhớ này đó là… ngủ.

Đúng vậy! Ngủ giúp não bộ thư giãn, củng cố lại các kiến thức cũng như tránh để lượng thông tin dày đặc làm rối loạn trí nhớ khi cần đến (Dân Trí, 2006).

Short-term memory

Còn đối với Short-term memory, có một vài phương pháp hữu hiệu như là tập trung vào thứ bạn cần nhớ đến, rèn luyện khả năng ghi nhớ,… 

Ví dụ, các bạn có thể tập nhẩm đi nhẩm lại một keyword nào đó trong đầu khoảng 15 – 20 giây (tên riêng, địa điểm,…), việc này giúp não bộ ghi nhớ thông tin nhanh chóng. 

Nhẩm đi nhẩm lại giúp tăng khả năng ghi nhớ cho kỹ năng nghe 1

Hơn nữa, các bạn có thể thử bằng cách hãy để một số lượng các vật khác nhau (trên 10 vật càng tốt) trên bàn, tập trung nhìn chúng trong 5 giây rồi quay lưng lại, sau đó thầm gọi tên các món đồ mà các bạn đã thấy (hãy cố gắng ghi nhớ và nói to càng nhiều càng tốt nhé !). 

Kỹ thuật Note-taking

Việc ghi chú nhanh cũng là một kỹ năng nghe quan trọng, nhất là khi làm bài thi IELTS Listening đến những phần mang tính khó với những chủ đề mang tính học thuật cao (Part 4).

Golden et al. (2019) cũng đưa ra một số lưu ý rằng: Đừng nên cố gắng ghi hết những gì người nói đang diễn thuyết mà hãy ghi một số keywords chủ yếu được nhắc đến trong bài, các bạn cũng đừng nên cố gắng nhớ những gì đã trôi qua mà hãy nghe tiếp với tiến độ của bài

Tiếp đến, sử dụng hệ thống ghi tắt của riêng bạn, có thể là các ký hiệu (&, +, =>, ….); chữ viết tắt (difficult – diff, mail – m@,…).

Sử dụng hệ thống viết tắt riêng của bạn khi nghe 1

Part of speech

Khi nắm rõ được loại từ của một từ cũng như quy luật sắp xếp của nó trong câu, các bạn có thể đoán được trước loại từ cần điền vào chỗ trống. Nhờ vậy, có thể nghe được synonyms (từ đồng nghĩa), antonyms (từ trái nghĩa) … 

Bạn có thể sử dụng câu “thần chú” như sau: tính – danh – động – trạng. Ngoài ra, cũng cần chú ý đến thì (tense), số ít số nhiều (subject-verb agreement).

Bài tập ứng dụng các kỹ năng nghe

Dưới đây sẽ là một bài luyện tập giúp các bạn áp dụng những kỹ năng nghe trên vào bài thi IELTS Listening. Chúc các bạn luyện tập thật tốt.

Bài tập ứng dụng các kỹ năng nghe

Link audio tại đây.

Link script  và đáp án.

Hướng dẫn cách giải bài tập

Câu 1:

Cristina nói đến sở thích sử dụng máy quay (“I like using the camera”), sau đó cô ấy cũng đề cập đến mong muốn khác. Trước khi nghe đến vị trí cần điền, cac bạn cần xác định được ngữ cảnh của đáp án, phía trước chỗ trống có từ “British” và theo như phỏng đoán thì đây có thể là một cụm danh từ (noun phrase). Trong script các bạn cũng sẽ nghe được đoạn: …I’d never been inside a British home before”.

Câu 2:

Vị trí trước từ cần điền, sau to thường là một động từ nguyên mẫu (Verb 1). Trong script cũng nhắc đến việc Ibrahim có hẹn ăn tối với các học sinh: “I’ve invited three of them to have dinner with me next week.”

Câu 3: 

Ở câu này, dựa vào dấu hiệu nhận biết từ loại, ta có thể thấy phía sau chỗ trống là một danh từ (vocabulary – /noun/) nên từ cần điền vào là một tính từ vì nó giúp bổ trợ các đặc tính cho một danh từ hoặc đại từ.

Trong bản script chúng ta sẽ nghe được đoạn hội thoại như sau: “And I also learned some technical words that I hadn’t heard before”. Thêm nữa các bạn hãy để ý đến từ “words” và so với từ “vocabulary” trong phần câu hỏi là synonyms (từ đồng nghĩa) của nhau.

Câu 4:

Sau many/a lot of/lots of/plenty of/…thường sẽ đi kèm sau đó là một danh từ. Trong bản script các bạn có thể nghe Ibrahim nói: “And they use a lot of “slang”.

Câu 5:

Sau các giới từ thường sẽ là một danh từ, vì vậy chỗ trống cần điền có thể là một danh từ. Bạn cũng cần để ý rằng danh từ có 2 dạng: danh từ có đuôi -ion hoặc đuôi -ing. Trong bản script các bạn sẽ nghe được như sau “we had to find ways of cooperating, erm, and compromising”.

Câu 6:

Ở đây khi nhìn vào cấu trúc đặc biệt của vị trí cần điền, các bạn có thể thấy được rằng bắt đầu đều là một động từ thêm -ing (hay còn được gọi là gerund).

Vì thế các bạn cũng đoán được rằng từ cần điền phải là một động từ thêm đuôi -ing. Trong bản script thông tin nghe được như sau: “and sometimes persuading people, when they don’t agree with you”.

Câu 7:

Cũng như ở câu 4, sau giới từ sẽ là một danh từ (đuôi -ion hoặc -ing). Trong bản script các bạn sẽ nghe được: “Well, I think I learnt a lot about how important editing is”. Và các bạn sẽ được nhấn mạnh từ “important” (adj), ở phần đề từ này đã được chuyển sang dạng “importance” (noun).

Câu 8:

Giống như ở câu 2, sau to thường sẽ là một động từ. Trong script các bạn có thể nghe được: “…when we’d complete each separate step of the project”. Ngoài ra, “each separate step” cũng có nghĩa tương đồng với “each stage”.

Câu 9:

Trong script các bạn sẽ nghe được thông tin “I think we should have tried to experiment more with the camera”, “should have tried” mang nghĩa là cố gắng làm một việc gì đó, tương tự ở phần câu hỏi “make more effort”  mang nghĩa là nỗ lực làm gì đó hơn mang nghĩa tương đồng nhau.

Câu 10:

Các bạn có thể nhận biết được rằng đây là một câu phủ định mang nghĩa là “đừng làm phim quá……….”, khi dịch ra từ cần điền sẽ là một tính từ. Trong bản script các bạn sẽ nghe được như sau: “Next time I would make a shorter one and try to get better quality”, dựa vào đây bạn có thể đoán ngầm được đáp án là một từ trái nghĩa (antonym) với từ “shorter”.

Huỳnh Anh Tuấn

KỸ NĂNG SKIMMING: PHƯƠNG PHÁP ĐỂ ĐỌC HIỂU NHANH BÀI READING IELTS

Mục lục

Có lẽ bạn đã biết, các bài đọc phổ cập kiến thức có độ dài bình quân dao động trong khoảng từ 800 – 1000 từ, hoặc lên tới 1500 từ đối với các bài nghiên cứu, văn bản khoa học.

Việc này cho thấy, phần thi Reading IELTS không chỉ là một bài kiểm tra từ vựng, mà ắt hẳn còn là một thử thách hết sức “cam go” về tốc độ đọc – hiểu, nắm bắt và chọn lọc thông tin trong một khoảng thời gian vô cùng giới hạn.

Vậy làm sao để có thể thực hiện nhiều công việc như vậy một cách “nhanh như chớp”? Câu trả lời rất đơn giản, đó chính là ứng dụng hai kỹ năng phụ (sub-skills) được nhiều chuyên gia công nhận, trong đó gồm Skimming (đọc lướt) và Scanning (đọc quét). Hai kỹ năng này được xem là một “bộ đôi hoàn hảo” giúp bạn sẵn sàng “chấp” bất cứ bài Reading nào. 

CÁC KỸ NĂNG PHỤ CẦN THIẾT ĐỂ CẢI THIỆN READING – PHẦN 1: SKIMMING VÀ SCANNING

Tuy nhiên, trong bài chia sẻ này, thầy sẽ tập trung chi tiết vào kỹ năng Skimming để giúp các bạn nắm được những cốt lõi, cũng như ứng dụng tốt vào các dạng bài Reading cụ thể.

Định nghĩa và cách vận dụng kỹ năng Skimming

Kỹ năng Skimming là gì?

Tương tự giống như khi bắt gặp một bài báo, bạn chỉ cần đọc tiêu đề và phụ đề là đã nắm được khoảng 60 -70% nội dung chính một cách tinh gọn và giản lược nhất. 

Kỹ năng Skimming chính là tập trung vào việc chọn lọc những thành tố thể hiện lượng thông tin một cách ngắn gọn nhưng vẫn đầy đủ nhất, không cần tập trung quá nhiều vào những chi tiết xung quanh.

kỹ năng skimming là gì 1

Vậy, cụ thể những thành tố mang trong mình thông tin cô đọng nhất là gì? Nếu phỏng theo đơn vị là toàn thể bài viết, những điểm cần lưu ý sẽ thường xuất hiện ở đoạn đầuđoạn cuối, còn nếu đơn vị là một đoạn, câu chủ đề (topic sentence) và câu kết luận (concluding sentence) sẽ là những thành phần giúp các bạn “bắt trọn” được nội dung cơ bản.

Tuy nhiên, đối với những đoạn văn chứa đựng nhiều thông tin phức tạp hơn, đôi khi việc tập trung vào “khúc đầu” và “khúc đuôi” không là chưa đủ, các bạn cần dựa vào các ý bổ trợ; ví dụ khác cho chủ đề chính của đoạn, hoặc xác định các yếu tố được lặp đi lặp lại trong đoạn để xác định một cách chính xác hơn điều mà đoạn văn truyền tải.

Làm thế nào để vận dụng hiệu quả kỹ năng Skimming?

cách vận dụng kỹ năng Skimming 1

Để vận dụng tốt hơn kỹ năng Skimming, các bạn cũng cần nắm cấu trúc xây dựng đoạn văn dựa theo tiêu chí Coherence and Cohesion (thường bắt gặp trong phần thi Writing). Đây cũng chính là khuôn mẫu chung mà các bài đọc trong phần thi Reading thường sẽ được trình bày theo, cụ thể:

Yếu tố mạch lạc và liên kết giữa các ý trong câu (Coherence)

Mỗi đoạn văn sẽ được trình bày theo hình thức diễn dịch (có câu chủ đề mở đoạn) hoặc tổng phân hợp (có câu chủ đề mở đoạn và câu kết đoạn tóm lại đại ý). Đôi khi, tác giả cũng sẽ thể hiện đoạn văn theo hình thức song hành (không có câu mở hoặc khép), khi mục đích của đoạn là nhằm để so sánh giữa các đối tượng nghiên cứu với nhau. 

Tuy nhiên, ý giải thích hoặc bổ trợ (supporting idea) và/hoặc ví dụ (example) sẽ là những thành phần không thể thiếu trong bất kỳ đoạn văn nào – chúng sẽ thể hiện rõ nhất đối tượng hướng đến của đoạn nếu được lặp đi lặp lại như thầy đã nhắc đến ở trên. 

GIẢI MÃ KỸ THUẬT SPEED READING VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG

Nắm vững những yếu tố này sẽ giúp nâng cao kỹ năng Skimming nói riêng và các kỹ năng cần cho bài Reading IELTS nói chung.

Yếu tố mạch lạc và liên kết về mặt sử dụng từ và ngữ pháp (Cohesion)

Mỗi câu trong đoạn văn sẽ được xây dựng theo cấu trúc thường gặp đó là S + V + O + S – trong một câu sẽ luôn có Chủ ngữ, Động từ, Tân ngữ và đôi khi là Thành phần bổ ngữ. 

Bên cạnh đó, hiểu và nắm được đa dạng các ngữ pháp như passive voice, relative clauses, reported speech,… và các cách dùng từ (collocations) cùng với những từ ngữ nối ý (cohesive devices) cũng sẽ là những thành tố quan trọng trong việc xác định nội dung chính và giúp việc đọc lướt diễn ra suôn sẻ hơn.

4Đ thực hiện kỹ năng Skimming 1

Áp dụng Skimming vào bài Reading IELTS thực tế

Kỹ năng Skimming thường được sử dụng nhiều nhất đối với các dạng bài yêu cầu hiểu và nắm được đại ý của đoạn như Matching Heading (Nối tiêu đề) và Multiple Choice (Trắc nghiệm). Đi qua một bài mẫu dạng Matching Heading để minh họa cách ứng dụng kỹ năng này nhé!

Which paragraph contains the following information? Write the correct letter, A-F, in boxes 1-8 on your answer sheet.

  1. Extinction of monstrous creatures
  2. The largest mammal
  3. Myths and reality
  4. Incredible creatures of Pleistocene Australia
  5. Importance of animal protection
  6. Giant lizards
  7. Arrival of Australian Aboriginals
  8. Mystery around the giants’ disappearance

The lost giants of Australian fauna

(A) Australia’s wildlife is unique. The vast majority of the animals that live there are not found anywhere else – and things were no different 1 million years ago during the Pleistocene: the age of the super-sized mammal. Before humanity became Earth’s undisputed superpower, giant beasts of all shapes and sizes dominated every continent, but the Pleistocene mammals of Australia were different. Some of them could grow to the size of small cars, or possessed teeth longer than knife blades.

(B) None of these animals survive today – although exactly why that’s the case is a mystery. Humans, with their advanced hunting techniques and use of fire to modify the landscape, may have played a central role in the megafauna’s disappearance, but this idea is still a matter of heated debate.

(C) Even if we cannot be sure that the arrival of Australian Aboriginals on the continent had catastrophic effects on its native animals, it seems that the animals had a rather spiritual effect on the humans. The Aboriginal mythological “Dreamtime” includes a cast of monstrous creatures, many of which bear a close resemblance to some of the real-life monsters that once stalked Australia’s plains. Are the myths based in fact? Perhaps: after all, these creatures are far stranger than anything dreamed up by humans.

(Nguồn: ielts-up.com)

Trong đoạn A, nhờ vào kỹ năng Skimming, các bạn sẽ nhận ra được ngay ý chính được nhắc đến một phần trong câu mở đầu của đoạn: Australia’s wildlife is unique” Nhưng như vậy chưa đủ để xác định được tiêu đề. 

Tiếp tục đọc lướt theo sườn đoạn, các bạn sẽ phát hiện có chi tiết liên quan đến “các loài động vật khổng lồ” được nhắc lại khá nhiều trong đoạn. Vì vậy, hai đáp án 24 sẽ là hai phương án khả thi nhất. Trong đó, dựa theo ý chính liên quan đến “Australia’s wildlife” đã xác định như ở trên, tựa đề số 2 chưa bao hàm đủ ý để khái quát toàn đoạn, dẫn đến đáp án 4 sẽ là đáp án chính xác nhất.

Đối với đoạn B, dễ dàng nhận thấy câu chủ đề đã tóm lược lại ý chính của đoạn: “None of these animals survive today – although exactly why that’s the case is a mystery.” Qua việc đọc lướt các  từ vựng mang ý chính như “mystery”, “heated debate”, “may have”,… các bạn có thể suy đoán ý tác giả muốn tập trung sẽ liên quan đến “bí ẩn”. Vì vậy, đáp án phù hợp nhất sẽ là tựa đề số 8.

Riêng đoạn C, ở đầu đoạn có nhắc đến “arrival of Australian Aboriginals”, nhưng thông qua Skimming, ta sẽ nhận thấy các câu tóm gọn đầy đủ đại ý của đoạn hơn sẽ là hai câu cuối “Are the myths based in fact? Perhaps: after all, these creatures are far stranger than anything dreamed up by humans”, còn ý trước đó chỉ là phụ. Do đó, đáp án chính xác sẽ là tựa đề số 3.

Qua bài viết trên, thầy cùng các bạn đã điểm qua những khía cạnh chính của kỹ năng Skimming cũng như cách vận dụng sao cho hiệu quả

Trong việc hoàn thành các dạng bài đọc Reading IELTS đòi hỏi phải nắm được ý khái quát của đoạn trong bài. Mong rằng với chia sẻ của thầy, các bạn sẽ học được cách để dần dần đọc “nhanh như chớp”, sẵn sàng “chặt chém” mọi bài đọc cao siêu nhất!

Nguyễn Vương Cao Duy

TRÁNH MỘT SỐ LỖI SAI VỀ “CÚ PHÁP” ĐÁP ÁN IELTS LISTENING ĐỂ KHÔNG MẤT ĐIỂM OAN

Mục lục

Khi làm bài nghe, thí sinh cần tập trung nghe kỹ đáp án IELTS Listening và điền vào câu trả lời. Tuy nhiên trong quá trình điền vào Answer Sheet, do giới hạn về thời gian, nhiều bạn sẽ điền sai “cú pháp”, một số lỗi điển hình như điền không đủ số lượng từ hoặc số, sai ngữ pháp,

Bài viết này sẽ giới thiệu đến các bạn cách để tránh một số lỗi sai về “cú pháp” như vậy khi điền đáp án IELTS Listening và hạn chế mất điểm oan. 

02 điều lưu ý trong quá trình nghe

Đọc kỹ yêu cầu đề bài

Phần thi IELTS Listening có rất nhiều dạng đề nhưng thường xoay quanh 4 dạng chính là:

  • Form, note, table, flow – chart, summary completion;
  • Plan, map, diagram labeling;
  • Matching;
  • Multiple choice;
  • Sentence completion;
  • Short – answer question.

Tùy vào đề thi, sẽ có những yêu cầu phần trả lời khác nhau như điền giới hạn số từ hoặc một số nào đó, xác định vị trí trên bản đồ, điền từ nghe được vào đoạn văn, hoàn thành câu,…

đọc kỹ đề - điền đáp án ielts listening 1

Tập trung vào keywords và bỏ qua câu chưa điền được

Trong quá trình thực hiện bài thi, các bạn sẽ phải làm nhiều task khác nhau, chẳng hạn như đọc câu hỏi, nghe, điền đáp án …

Có một điều rất quan trọng mà các bạn cần nắm chính là KHÔNG cần nghe hiểu từng chữ trong đoạn nghe. Thay vào đó hãy tập trung vào keywords. 

Ngoài ra, nếu như các bạn đã bỏ lỡ đáp án, hãy làm câu tiếp theo, không nên dành quá nhiều thời gian để suy nghĩ.

lưu ý khi làm bài nghe - điền đáp án ielts listening 1

Một số cách tránh sai “cú pháp” khi điền đáp án IELTS Listening

Lưu ý đến giới hạn số từ hoặc con số trên đề bài

Khi làm đến dạng bài Completion, đề bài thường sẽ hướng dẫn điền đáp án như “NO MORE THAN … WORDS AND / OR A NUMBER”, có nghĩa là bạn chỉ được điền ít hơn hoặc bằng số từ hoặc số cho phép.

chú ý yêu cầu đề khi điền đáp án ielts listening 1

Ví dụ:

SECTION 4                                                          Question 31 – 40

Complete the notes below.

Write NO MORE THAN TWO WORDS for each answer.

For business values

Many business values can result in 31 ……………………… .

Senior managers need to understand and deal with the potential 32 ……………….. that may result.

Như đề bài trên, các bạn cần điền vào chỗ trống không được quá 2 từkhông điền con số.

Link luyện tập: https://mini-ielts.com/1161/listening/four-business-values

Cách để phân biệt được “từ” “số”:

  • Con số chỉ năm, số điện thoại,… được tính là một số: 2006 / 0987xxxxxx.
  • Con số với đơn vị từ hàng triệu trở lên sẽ được tính là một từ: 1.497.230 …
  • Từ có dấu nối “-“ được tính là một từ: part – time / check – in / …

Hơn nữa, câu trả lời của bạn cũng sẽ phục thuộc vào dạng câu hỏi đề bài cho.

Ví dụ: Có 2 câu trả lời “in the backyard” hoặc “backyard”

  • Nếu như các bạn làm dạng Sentence Completion

They’re having a picnic ……………………….. .

Để đúng với cấu trúc ngữ pháp, ở đây các bạn sẽ cần điền đáp án IELTS Listening là “in the backyard”.

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT DẠNG BÀI SENTENCE COMPLETION TRONG IELTS LISTENING (PHẦN 1)

  • Nếu như các bạn làm dạng Note / Form Completion

OCCUR AT = …………………….. .

Đáp án được điền chỉ có 1, thì các bạn sẽ điền đáp án IELTS Listening vào chỗ trống là “backyard”.

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT CÁCH LÀM DẠNG FORM COMPLETION TRONG IELTS LISTENING (PHẦN 2)

Kiểm tra chính tả

Trước khi chuyển đáp án IELTS Listening vào Answer Sheet, các bạn phải luôn đảm bảo không sai lỗi chính tả.

Khi còn trong thời gian nghe, các bạn có thể sẽ ghi nhanh phần nghe được mà không kiểm tra kịp thời chính tả, vì vậy khi được phép đưa câu trả lời vào Answer Sheet các bạn nên xem lại thêm một lần nữa.

kiểm tra lỗi khi điền đáp án ielts listening 1

Ví dụ: 

Write NO MORE THAN THREE WORDS for each answer

Many western sections of the wall are constructed from mud and thus are more ………….. 

Đáp án đúng là: susceptible to erosion

Nhưng có thể các bạn sẽ điền thành susseptible.

Thêm một ví dụ về lỗi chính tả mà các bạn rất dễ mắc phải đó chính là nghe từ số nhiều.

Ví dụ:

Singular

Plural

leaf /liːf/

leaves /liːvz/

Quiz /kwiz/

Quizzes /kwiziz/

Một số lỗi khác

Thứ nhất, đối với dạng đề Multiple Choice, câu hỏi và đáp án sẽ như sau:

Choose the correct letter A, B, or C.

36. We are all present hedonists

A. at school 

B. at birth

C. while eating and drinking

Khi điền vào Answer Sheet, các bạn không điền A. at school” mà sẽ chỉ điền một trong 3 chữ cái A, B, hoặc C cho đáp án đúng.

chọn đáp án ielts listening 1

Thứ hai, trong khi nghe một đoạn hội thoại giữa 2 nhân vật, có những lúc chi tiết nhắc về đáp án sẽ thay đổi. Chính vì vậy, các bạn cần nghe rõ và chọn lọc thông tin trước khi đưa vào Answer Sheet.

Ví dụ:

Henry:

Is it ok to meet at 6:00 PM ?

Aurora:

Yes, it sounds fine for me.

Oh wait ! I’ve just remember I have a late meeting with the Student Council. Could we make it half past instead ?

Ở đây, thay vì Henry và Aurora sẽ gặp nhau vào lúc 6:00 tối thì cuộc hẹn đã được dời lại thành 6:30 tối.

Hy vọng bài viết này sẽ giúp các bạn nắm rõ được một số biện pháp phòng tránh việc trả lời sai “cú pháp” khi điền đáp án IELTS Listening vào Answer Sheet để không bị mất điểm oan. 

Các bạn có thể luyện tập nghe hằng ngày, nghe nhiều lần để làm quen với cách người nói phát âm cũng như các “bẫy” có thể có, hoặc các từ số nhiều dễ gây nhầm lẫn.

05 BẪY (TRAPS) THƯỜNG GẶP TRONG BÀI NGHE IELTS: NÉ “TRAPS” HIỆU QUẢ

Chúc các bạn ôn thi thật tốt và có một kỳ thi thật thuận lợi.

Huỳnh Anh Tuấn

Cải thiện kỹ năng nghe tiếng Anh cùng Đội ngũ Học thuật ILP:

ỨNG DỤNG CỦA PHƯƠNG PHÁP “DICTATION” – NGHE CHÉP CHÍNH TẢ TRONG IELTS LISTENING

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH THỪA HOẶC THIẾU “S” KHI LÀM CÁC DẠNG LISTENING IELTS?

LỢI ÍCH VÀ CÁCH TẬN DỤNG TRANSCRIPT ĐỂ CẢI THIỆN KỸ NĂNG NGHE IELTS

TỔNG QUAN VÀ CÁCH LÀM BÀI MULTIPLE CHOICE IELTS READING LOẠI 2 HIỆU QUẢ

Xin chào các bạn đã đến với bài viết của Mr. Di! Trong bài viết lần này, thầy và các bạn sẽ cùng “chiến đấu” với một dạng bài “trông quen mà lạ” đối với các IELTS-ers – Multiple Choice Loại 2.

Đây là dạng bài các bạn có lẽ đã khá quen thuộc vì tần suất xuất hiện trong phần thi IELTS Listening. Nhưng không chỉ trong Listening, đây cũng còn là dạng bài khá thường xuyên được xuất hiện trong các bài đọc IELTS. Liệu rằng Multiple Choice IELTS Reading sẽ có thể làm khó bạn?

Gói gọn trong nội dung bài viết này, các bạn sẽ điểm qua cấu trúc chung, cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 2, sự khác biệt giữa dạng bài này và Multiple Choice Loại 1 để “chinh phục” dạng bài này mà không vướng phải quá nhiều sai sót nhé!

Cấu trúc chung và sự khác biệt giữa Multiple Choice IELTS Reading Loại 1 và Loại 2

Như các bạn đã biết, Multiple Choice (còn gọi là bài thi “Trắc Nghiệm”) là dạng bài yêu cầu người đọc chọn ra đáp án đúng nhất để trả lời cho một câu hỏi được cho sẵn. Nếu như Loại 1 chỉ yêu cầu chọn ra 1 đáp án đúng nhất trong số 4 đáp án được cho, Loại 2 sẽ có phần “khó nhằn” hơn một chút vì số lượng lựa chọn được cho sẵn lên tới 5 và số đáp án được yêu cầu chọn sẽ là 2 đáp án. 

Vị trí của dạng bài này thông thường sẽ nằm ở Passage 2 và 3 – những bài viết mang tính chuyên môn và học thuật, đòi hỏi ý hiểu cao.

cách làm bài multiple choice ielts reading loại 2 ilp

Cụ thể, cấu trúc của một bài Multiple Choice Loại 2 cơ bản là như sau:

Which TWO of the following statements does the writer make about the discoveries of Barrett’s team?
Artefacts found in the higher mountain passes were limited to skiing equipment.

  1. Hunters went into the mountains even during periods of extreme cold.
  2. The number of artefacts from certain time periods was relatively low.
  3. Radiocarbon dating of artefacts produced some unreliable results.
  4. More artefacts were found in Oppland than at any other mountain site.

(Nguồn: Cambridge IELTS 16 – Reading Test 3)

Tương tự như Loại 1, dạng câu hỏi Multiple Choice IELTS Reading Loại 2 cũng yêu cầu người đọc tìm kiếm ý kiến, quan điểm liên quan đến chủ đề nghiên cứu của bài đọc như cấu trúc mẫu ở trên (opinions), hoặc những chi tiết, thành phần liên quan đến một chủ thể nào đó được nhắc đến trong bài (facts). 

Tuy nhiên, khác với Multiple Choice Loại 1, Loại 2 thường sẽ không đưa ra cụ thể vị trí của các chi tiết cho các bạn, ví dụ như “…in the third paragraph”, mà chỉ đặt ra chi tiết các bạn cần phải tìm trong bài và các bạn sẽ phải “tự thân vận động” để tìm ra đáp án nha! 

Hơn nữa, nếu như các câu hỏi và đáp án trong Loại 1 thường sẽ được sắp xếp theo thứ tự các đoạn, ngược lại với Loại 2, các đáp án không nhất thiết sẽ đi theo một trục thẳng từ đầu đến cuối đoạn mà sẽ có thể nằm ngẫu nhiên ở các đoạn khác nhau.

Cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 2

Về cơ bản, cách làm câu hỏi dạng bài này sẽ không có sự khác biệt quá lớn so với Loại 1 – nghĩa là những kỹ năng mà các bạn đã “nằm lòng” như scanning và skimming sẽ được luân phiên vận dụng nhằm nhanh chóng “truy vết” ra đáp án.

Cách làm bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 2 cụ thể như sau:

  1. Đọc kĩ câu hỏi và các đáp án đã được cho sẵn, sau đó tập trung khoanh tròn/highlight các từ khóa chứa đựng lượng thông tin nhiều nhất.
  2. Thực hiện kỹ năng skimming để xác định vị trí chi tiết cần tìm.
  3. Xem xét kỹ lưỡng các từ khóa (key words) đã khoanh vùng trong câu hỏi, và đối chiếu với chi tiết trong bài để xác nhận đáp án 

cách làm bài multiple choice ielts reading hiệu quả 1 ilp

Chúng ta hãy cùng thử điểm qua một ví dụ về loại bài này để cùng hiểu chi tiết hơn về cách làm nhé!

Humpback whale breaks migration record

A lone humpback whale travelled more than 9,800 kilometres from breeding areas in Brazil to those

in Madagascar, setting a record for the longest mammal migration ever documented.Humpback whales (Megaptera novaeangliae) are known to have some of the longest migration distances of all mammals, and this huge journey is about 400 kilometres farther than the previous humpback record. The finding was made by Peter Stevick, a biologist at the College of the Atlanticin Bar Harbor, Maine.

The whale’s journey was unusual not only for its length, but also because it travelled across almost 90 degrees of longitude from west to east. Typically, humpbacks move in a north-south direction between cold feeding areas and warm breeding grounds – and the longest journeys which have been recorded until now have been between breeding and feeding sites.

The whale, a female, was first spotted off the coast of Brazil, where researchers photographed its tail fluke and took skin samples for chromosome testing to determine the animal’s sex. Two years later, a tourist on a whale-watching boat snapped a photo of the humpback near Madagascar. To match the two sightings, Stevick’s team used an extensive international catalogue of photographs of the undersides of tail flukes, which have distinctive markings. Researchers routinely compare the markings in each new photograph to those in the archive.

(Nguồn: Essential Reading Band 5.0+)

  1. What TWO aspects of the whale’s journey surprised researchers?

A the destination 

B the direction 

C the distance

D the reason 

E the season

  1. What TWO reasons why whales generally migrate are given?

A to avoid humans 

B to be safe 

C to eat

D to keep warm 

E to produce young

  1. What TWO methods did researchers use to record the identity of the whale near Brazil?

A They analysed part of the whale’s body.

B They marked its tail.

C They made notes of its behaviour.

D They recorded the sounds it made.

E They took a picture.

Trong câu hỏi số 1, những từ khóa chúng ta cần tập trung chính là “aspects”, “whale’s journey”“surprised researchers”, còn các đáp án được cho đều là những  “aspects” đã được nhắc đến trong câu hỏi. Thông qua skimming và scanning, các bạn sẽ dễ dàng phát hiện chi tiết “unusual  not only… but also…” trong đoạn thứ 2.

Chi tiết này sẽ tương xứng với “surprised researchers”, và qua đó, ta cũng sẽ xác định được các chi tiết đi sau là “length” tương tự với đáp án C (direction) và “from west to east” chỉ đáp án B (direction).

bài multiple choice ielts reading loại 2 ilp

Đối với câu hỏi số 2, ta sẽ tập trung vào các từ khóa là “reasons”“generally migrate”, với các đáp án đại diện cho các “reasons” nhắc đến trong câu hỏi. Tương tự như cách làm câu 1, ta sẽ khoanh vùng được các chi tiết nằm ở đoạn số 2.

Đầu tiên chính là “typically” là paraphrase của “generally” và ngay sau đó chính là “move in north-south direction” tương xứng với “migrate”.

Mặc dù không có từ khóa nào tương tự với “reasons” trong bài, nhưng “cold feeding areas”“warm breeding grounds” chỉ những khu vực mà loài cá voi di cư tới và mục đích của những vùng này, với “feeding” bằng nghĩa với đáp án C (to eat) và “breeding” đồng nghĩa đáp án E (produce young).

cách làm bài multiple choice ielts reading loại 2 như thế nào 1

Cuối cùng, đối với câu hỏi số 3, các từ khóa chính là “methods”, “reseachers”, “record the identity”“whale near Brazil”

Qua skimming và scanning, ta sẽ thấy ở đoạn cuối cùng có chi tiết “determine the animal’s sex” tương tự với “record the identity”, với hành động của các nhà nghiên cứu là “photographed”, tương xứng với đáp án E (took a picture) và “took skin samples” tương ứng đáp án A (analysed part of the whale’s body).

cách làm bài multiple choice ielts reading loại 2 để đạt điểm cao 1

Trong bài chia sẻ hôm nay, thầy đã cùng các bạn điểm qua dạng bài Multiple Choice IELTS Reading Loại 2, một dạng bài có thể nói là một trong những tác nhân gây “đau đầu” đối với các IELTS-er khi làm bài Reading IELTS.

Hy vọng qua bài viết, các bạn sẽ tự tin và mạnh mẽ mỗi khi gặp phải câu hỏi dạng bài này nhé!

Nguyễn Vương Cao Duy

NHỮNG LỖI THƯỜNG GẶP TRONG DẠNG BÀI TRUE FALSE NOT GIVEN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

Mr. Di xin chào các bạn! Nội dung của bài chia sẻ này sẽ là về một loại bài tập mà thầy tin rằng các bạn ít nhất một lần đều cảm thấy “bất ngờ, ngỡ ngàng, ngơ ngác và bật ngửa” khi gặp dạng bài True False Not Given.

Trong bài viết này, thầy cùng các bạn sẽ điểm qua một số khó khăn mà ta thường hay gặp phải đối với dạng bài này nhé!

Không xác định được thông tin thể hiện đáp án trong bài

Có một sự thật là không ít các sĩ tử IELTS gặp vấn đề trong việc xác định vị trí của thông tin liên quan đến câu hỏi trong bài đọc, khiến cho thời gian cứ trôi dần trôi mà đáp án thì “mò hoài không ra”.

Các bạn nên nhớ rằng đối với dạng bài True False Not Given, thông tin sẽ được trình bày theo thứ tự. Nghĩa là thông tin cho câu 1 sẽ xuất hiện trước câu 2, và đến câu 3. Vì vậy, giả dụ nếu các bạn đã tìm được đáp án cho câu 3 rồi, thì chỉ cần đọc lùi lại, đáp án câu 1 và câu 2 sẽ nhanh chóng “hiện nguyên hình”.

thông tin dạng bài True False Not Given 1

Sau đó, khi đọc các câu hỏi, xác định từ khóa (keywords) là một việc rất quan trọng. Cụ thể, từ khóa sẽ chủ yếu là các danh từ, động từ, tính từ chứa đựng lượng thông tin nhiều nhất trong câu.

Khi đã xác định được từ khóa, việc soi chiếu giữa mệnh đề được cho và những cụm từ tương tự về nghĩa được xuất hiện trong bài sẽ giúp các bạn tìm ra được đáp án.

Ví dụ 1:

  • Câu hỏi: People with dyslexia often read in reverse.
  • Chi tiết trong bài: “This theory could explain why dyslexics have difficulty reading. Many dyslexic children read letters and words backwards, often mistaking a b for a d or reading was instead of saw.”

Từ khóa trong câu hỏi sẽ là “read in reverse” (nghĩa là “đọc ngược”), nhưng trong bài đọc lại không có từ “reverse”, mình phải hiểu và tìm một từ có nghĩa tương tự, đó là backwards. Do đó, TRUE sẽ là đáp án mà các bạn tìm kiếm.

Không bao quát được hết các ý được thể hiện trong mệnh đề cho sẵn

Một điều  cần lưu ý với dạng bài True False Not Given này chính là trọng tâm của việc xác định đúng sai cũng sẽ nằm ở các từ chỉ mức độ, sắc thái trong câu hỏi. Những từ này mang ý nghĩa cốt lõi giúp xác định câu đúng hay sai và việc bỏ qua các từ ngữ này cũng sẽ làm bạn sai cái “oạch” đó.

từ khóa trong dạng bài true false not given 1

Bên cạnh việc tìm và soi chiếu từ khóa giữa các mệnh đề và bài đọc, các IELTS-er cũng nên lưu ý một số các từ khác cũng đóng góp vào việc thể hiện ý nghĩa của câu như:

  • Lượng từ: all, almost, most, many, none,…
  • Mức độ thường xuyên: always, never, usually, rarely,…
  • Sự độc nhất: only, unique, solely,…
  • Thứ tự: first, last, second,…
  • Thời gian: newest, most recent, as soon as, recently,…

Ví dụ 2:

  • Câu hỏi: Mau’s grandfather was his only teacher.
  • Chi tiết trong bài: “His grandfather began the task of teaching him how to navigate when he was still a baby. He showed him pools of water on the beach to teach him how the behaviour of the waves and wind changed in different places.”

Các từ khóa trong câu hỏi này sẽ là “grandfather”, “teacher” và đặc biệt là từ “only”. Trong bài, cả “grandfather” và “teacher” đều được nói đến nhưng không có ý nào cho thấy đây là “only teacher” cả. Do đó, đây sẽ là câu NOT GIVEN.

Không chỉ ra được sự khác biệt giữa đáp án False và Not Given trong dạng bài True False Not Given

Thầy tin rằng đây chính là vấn đề mà đa phần các sĩ tử IELTS đều mắc phải trong quá trình luyện thi, bởi sự tương đồng giữa hai lựa chọn này.

Rất dễ để có thể cho rằng, trong dạng bài True False Not Given, NOT GIVEN tức là bài sẽ hoàn toàn không nhắc đến bất cứ chi tiết nào trong các mệnh đề. Và thầy có thể khẳng định với các bạn rằng đây là quan niệm chưa chính xác.

lựa chọn not given trong dạng bài true false not given 1

Các bạn cần lưu ý, một câu sẽ FALSE khi “contradicts” – đối ngược với những gì được viết trong bài. Và cách làm đơn giản nhất đó là mình sẽ cắt nhỏ câu thành những chi tiết chính. 

Giả sử trong câu đó có 3 điểm chính, tạm gọi là a, b, c, và trong đoạn tương xứng trong bài đọc cũng có 3 điểm chính, tạm gọi là ba chi tiết a, d, c. Trong đó, như các bạn thấy, chi tiết b và chi tiết d hoàn toàn trái ngược nhau, cho nên câu này đáp án sẽ phải là FALSE.

Mặt khác, một câu sẽ được xem là NOT GIVEN khi nó “impossible to tell” – không thể đoán chính xác dựa vào thông tin trong bài. Một câu khác cũng có 3 điểm chính là a, b, c; nhưng trong bài lại chỉ nhắc đến 2 điểm là a và c. 

Một vài điểm nhỏ nhặt được nhắc đến trong mệnh đề nhưng lại không xuất hiện trong bài đọc sẽ khiến ta không thể biết được độ chính xác của câu.

Ví dụ 3:

  • Câu hỏi: In ancient Puerto Escondido, cacao drinks were served hot.
  • Chi tiết trong bài: “In all, ten small, beautifully crafted drinking vessels were found at the Puerto Escondido site, suggesting that even then the cacao brew was not consumed on a frequent basis but was reserved for important feasts or ceremonial events.”

Trong câu trên, chủ thể “cacao drinks” và “Puerto Escondido” vẫn được nhắc đến. Tuy nhiên, chi tiết “reserved for important feasts or ceremonial events” là để thể hiện các thời điểm mà thức uống này được phục vụ, trong khi mệnh đề thể hiện “served hot” – tức là phương thức mà đồ uống này được phục vụ. Hai điều này không liên quan gì đến nhau.

Do đó, các bạn sẽ không thể nắm được liệu phương thức phục vụ có phải là “served hot” hay không, nên đáp án sẽ là NOT GIVEN.

Hôm nay, thầy đã cùng các bạn điểm qua một dạng có thể gọi là hơi “khó nhằn” và “rối não” khi làm bài Reading – dạng bài True False Not Given.

Mong rằng qua bài chia sẻ này, các bạn sẽ không còn quá “ngơ ngác và bật ngửa” khi đối diện với sự “hack não” nữa nhé!

ỨNG DỤNG KỸ NĂNG SCANNING TRONG IELTS READING ĐỂ LÀM BÀI NHANH CHÓNG

Thầy Di xin chào các bạn! Có lẽ như các bạn đã biết, bài thi Reading IELTS không chỉ là một bài kiểm tra từ vựng của thí sinh mà còn là một bài kiểm tra “cách đọc” và “cách hiểu” – cũng như cách xử lý và ứng dụng thông tin đã tiếp nhận qua quá trình đọc bài để hoàn thành đa dạng các bài tập trong thời gian giới hạn.

Chính vì vậy, để có thể hoàn thành được “nhiệm vụ cao cả” này mỗi khi bắt tay vào làm bài, các chuyên gia đã phân kỹ năng Reading thành nhiều kỹ năng phụ (sub-skills) khác. 

Cụ thể, đối với những kỹ năng phụ này, quan trọng nhất chính là Skimming (đọc lướt) và Scanning (đọc quét). Hai kỹ năng này thường sẽ luôn bổ trợ với nhau trong công cuộc “săn lùng đáp án”. 

Nhưng để các bạn có thể hiểu sâu hơn, gói gọn trong nội dung bài viết này, thầy sẽ tập trung chủ đạo vào kỹ năng Scanning và ứng dụng của nó đối với các dạng bài Reading đòi hỏi đáp án chính xác nhé!

Định nghĩa và cách thực hiện kỹ năng Scanning

Nói một cách nôm na, khi scan một thứ gì đó, các bạn sẽ cần phải sử dụng một công cụ nào đó để quét qua nó, với mục đích nhằm để dò tìm và phát hiện ra những chi tiết, yếu tố quan trọng cấu thành nên thứ đó.

Tương tự đối với bài thi IELTS Reading, bạn sẽ cần phải scan để tìm ra những từ khóa trong cả bài đọc lẫn câu hỏi.

kỹ năng scanning trong bài thi IELTS reading 1

Vậy “công cụ” sẽ sử dụng khi scan bài đọc sẽ là gì? Đó chính là “cửa sổ tâm hồn” của các bạn đó! Các bạn sẽ vận dụng kỹ năng di chuyển hướng nhìn của mắt qua từng đoạn trong bài đọc để có thể nhanh chóng xác định những điểm mà người ra đề đã paraphrase lại tương ứng với câu hỏi đã cho.

Để sử dụng hữu hiệu “công cụ” này, các bạn nên làm quen với việc chuyển động mắt từ rìa cuối các phân khúc đã xác định là chứa đựng thông tin lên, theo chiều từ phải sang trái.

Cùng lúc đó, các bạn hãy dùng bút khoanh tròn hoặc highlight những từ hoặc cụm từ chứa đựng nhiều thông tin nhất và kết nối chúng với nhau để giúp bạn dễ dàng liên kết ý giữa các từ hoặc các cụm với nhau.

Khác với cách đọc truyền thống theo chiều trên xuống dưới và trái qua phải, động thái này sẽ giúp các bạn tránh được việc bị cuốn theo nội dung bài đọc cũng như phải tiêu tốn thời gian để xác định được từ khóa và nội dung cần tập trung.

Ngoài ra, điểm khác biệt lớn nhất giữa kỹ năng Skimming và kỹ năng Scanning đó là các bạn có thể chơi “nhảy bước” từ phần câu hỏi trước để xác định thông tin cần tìm kiếm, và dành thời gian sau để hoàn thành câu hỏi mà không cần đi theo trình tự bài.

các bước thực hiện kỹ năng scanning 1

Áp dụng kỹ năng Scanning vào bài Reading IELTS

Đối với các dạng bài tập trong phần thi IELTS Reading, kỹ năng Scanning sẽ được ứng dụng chủ yếu vào các dạng Fill in the blanks (điền từ vào chỗ trống, bao gồm Sentence, Note và Summary Completion), True/False/Not given hoặc Yes/ No/ Not given và Matching features (nối thông tin).

Cùng điểm qua thử một bài dạng Sentence Completion, để cùng ứng dụng thực tiễn kỹ năng Scanning nhé!

How atoms were discovered

Hundreds of years ago in 1785 Dutch scientist Jan Ingenhousz was studying a strange phenomenon that he couldn’t quite make sense of. Minute particles of coal dust were darting about on the surface of some alcohol in his lab.

About 50 years later, in 1827, the Scottish botanist Robert Brown described something curiously similar. He had his microscope trained on some pollen grains. Brown noticed that some of the grains released tiny particles – which would then move away from the pollen grain in a random jittery dance.

At first, Brown wondered if the particles were really some sort of unknown organism. He repeated the experiment with other substances like rock dust, which he knew wasn’t alive, and saw the same strange motion again.

It would take almost another century for science to offer an explanation. Einstein came along and developed a mathematical formula that would predict this very particular type of movement – by then called Brownian motion, after Robert Brown.

Einstein’s theory was that that the particles from the pollen grains were being moved around because they were constantly crashing into millions of tinier molecules of water – molecules that were made of atoms.

By 1908, observations backed with calculations had confirmed that atoms were real. Within about a decade, physicists would be able to go further. By pulling apart individual atoms they began to get a sense of their internal structure.

It might come as a surprise that atoms can be broken down – particularly since the very name atom derives from a Greek term “atomos”, which means “indivisible”. But physicists now know that atoms are not solid little balls. It’s better to think of them as tiny electrical, “planetary” systems. They’re typically made up of three main parts: protons, neutrons and electrons. Think of the protons and neutrons as together forming a “sun”, or nucleus, at the centre of the system. The electrons orbit this nucleus, like planets.

Complete the sentences below.

Write NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.

  1. The type of random jittery movement of tiny particles is called …………………….. .
  2. Einstein explained the phenomenon of particles’ strange motion by the fact that they were collapsing with …………………….. .

(Nguồn: ielts-up.com)

Trong câu 1, bằng việc thực hiện kỹ năng scanning, nhìn qua câu hỏi, bạn sẽ xác định được những từ khóa chính là “type”, “random jittery”, “movement” và “tiny particles”. Trước khoảng trống, các bạn thấy có chữ “called” – tức là sẽ cần có một danh từ hoặc tên riêng.

Tiếp tục “liếc mắt” qua bài, các bạn sẽ thấy ở cuối đoạn 2, người viết có nhắc đến “random jittery dance” – tương tự với chi tiết đã tìm trước đó, nhưng vẫn chưa xuất hiện chi tiết cần.

Vì vậy, cần tiếp tục “quét” cụ thể các đoạn sau đó, cho đến đoạn thứ 4, các bạn sẽ thấy bài viết nhắc đến “movement”, cũng tương tự như từ khóa mình đã tìm, và truy ra được chi tiết, “by then called Brownian motion”. Như vậy, đáp án cho câu 1 sẽ là BROWNIAN MOTION.

Trong câu 2, cũng tương tự, nhờ kỹ năng scanning, ta sẽ xác định được các từ khóa là “Einstein explained”, “phenomenon of particles” và “strange motion”. Chi tiết giúp chúng ta xác định đáp án là “collapsing with” – ở đây ta sẽ cần có một cụm danh từ hoặc danh từ để hoàn thành chỗ trống.

Hướng mắt lại về phía bài, ta sẽ thấy có những cụm từ “va phải sự chú ý của ta” vì chúng đồng nghĩa với những từ khóa ta đã tìm kiếm.

Đó chính là “Einstein’s theory” bằng nghĩa với “Einstein explained” và “crashing into” với “collapsing with”. Ta sẽ dễ dàng nhận ra được đáp án cho câu hỏi này nằm ở ngay sau “crashing into” – MOLECULES OF WATER.

Như vậy, trong bài viết hôm nay, thầy và các bạn đã cùng đi qua chi tiết về kỹ năng Scanning và ứng dụng của nó trong các dạng bài IELTS Reading. Thầy hy vọng qua bài viết các bạn sẽ phần nào được “mở mang tầm óc” để có thể hoàn thành bài một cách “đỉnh của chóp” nhé!